n đồi cao. Hôm ấy tôi được phân công trực báo động. Có nghĩa là tôi phải ngồi trên chòi, quan sát bầu trời thật kỹ, nếu có máy bay xuất hiện thì khua kẻng báo động. Tùy theo mức độ nguy hiểm mà ra hiệu lệnh để đồng đội biết mà sẵn sàng đối phó với giặc.
Đó là một ngày hè cháy bỏng như bao ngày hè miền Trung khác. Trời xanh cao, trong vắt. Nắng chói chang, rực rỡ. Tôi ngồi trong chòi gác, cái chòi làm bằng tre, lợp lá cọ, căng mắt dõi nhìn về phía biển Đông xanh ngắt, nơi mà lũ máy bay giặc thường bất ngờ xuất hiện. Im ắng quá. Suốt từ sáng đến gần trưa hoàn toàn không có mảy may tiếng động nào. Hoàn toàn không có tiếng ầm ì từ xa vọng lại. Bầu trời cao vòi vọi, xanh ngằn ngặt. Cả một ngọn gió cũng hiếm hoi. Im ắng đến ngờ! Từ ngày chiến tranh bùng nổ, bầu trời quê hương tôi ít khi được yên tĩnh. Tiếng máy bay gầm rú, tiếng bom đạn nổ uỳnh oàng... Cả ngày lẫn đêm, không lúc nào ngớt. Bởi thế, sự im lặng kéo dài hiếm hoi làm tôi cảm thấy áy náy, bồn chồn. Tôi càng chăm chú quan sát hơn.
Đêm qua tôi với thằng Thành nói chuyện rất khuya, tuy thế, giờ tôi vẫn không hề cảm thấy buồn ngủ tí nào. Tôi sợ. Tôi lo lắng điều gì đó bất trắc xảy ra. Và rồi, điều tôi nghi ngại đã đến. Tầm trưa, ba chấm đen bỗng xuất hiện trên bầu trời phía Đông Nam. Nó bay rất nhanh, đội hình tam giác. Ngay lập tức tôi phát hiện đó là ba chiếc F105, loại máy bay chiến đấu có tốc độ siêu âm. Tôi gõ kẻng báo động nhịp ba liền hồi. Ba chiếc máy bay nâng độ cao rồi đột ngột bổ nhào. 'Tặc... Tặc... Tặc" tôi nghe tiếng 12 li 7 của tiểu đội tôi bắn trả. Cả tiếng "Cà tùm... cà tùm" của pháo 37 li, bộ đội chủ lực cũng đồng hiệp lực. Ba chiếc máy bay F105 thi nhau bổ nhào. Tiếng bom nổ bình bịch âm i. Bom rơi rất gần, bởi tiếng nổ của nó nghe không chát chúa mà cứ bình bịch, i i. Kinh nghiệm cho tôi biết điều đó. Trung đội tôi đang bị oanh tạc. Dưới kia con đường đỏ như máu, oằn lên trong khói bụi mịt mù. Tiếng 12 li 7 im bặt.
Tôi lao xuống như điên. Lũ giặc đã bỏ đi, để lại cả một vùng trời đen đặc khói bụi. Mắt tôi cay xè, gần như mù, không thể nhìn rõ bất cứ thứ gì. Tôi lao về phía ụ pháo 12 li 7 theo trí nhớ của mình, thỉnh thoảng lại vấp vào những cục đá lổn nhổn trên mặt đất, ngã dúi dụi, đau điếng. Tiếng khóc than, gào thét của chị em làm bước chân tôi khựng lại, mềm nhũn. "Thành ơi! Long ơi! Đồng ơi! Vượng ơi!... Trời ơi... đâu cả rồi?!" Ụ pháo 12 li 7 của tiểu đội tôi bị san phẳng, chỉ còn lại khẩu pháo vẫn vươn nòng. Đằng đuôi, phía báng súng, một người vẫn đứng, hai chân bị lấp, còn lại một nửa thân người không đầu, hai tay vẫn cầm chặt cò súng. Xung quanh ụ pháo, chị em lăn lộn gào khóc, vừa thay nhau đào bới. Chỉ còn lại mình tôi là đàn ông duy nhất. tôi tự biết mình phải cứng rắn lên, không được khóc.
Phải rất lâu sau, chúng tôi mới tìm được hết thân xác đồng đội. Tiểu đội tôi có chín người, trừ tôi, còn lại đều hi sinh. Một quả bom đã rơi rất gần ụ pháo, tàn sát tất cả. Cái xác không đầu kia chính là thằng Thành. Nó được khẩu súng che chắn nên thân hình còn nguyên, nhưng cái đầu bị bay mất. Tôi loay hoay mãi không bế được Thành đặt xuống đất. Hai bàn tay nó bám quá chặt vào cò súng, không thể nào gỡ ra được. Một vài đồng đội đến giúp tôi, nhưng vẫn không xong. Chúng tôi không nỡ mạnh tay. Cuối cùng, tôi đành gọi Hiền. Hiền hầu như đã ngất xỉu. Tôi phải vừa động viên, vừa dìu Hiền đến bên Thành. Hiền dựa vào tôi, vừa khóc thảm thiết vừa nhẹ nhàng gỡ từng ngón tay Thành ra khỏi cò súng. Thật lạ. Thành như nghe được tiếng Hiền, như cảm nhận được hơi ấm từ bàn tay Hiền, những ngón tay của hắn mềm dần, rồi buông lỏng cò súng.
Tôi đặt Thành bên cạnh những đồng đội khác. Tám người, xếp hàng một, thi thể hầu như đầy đủ cả, chỉ duy nhất xác Thành thiếu cái đầu.
Cho mãi đến mịt tối vẫn không tìm thấy cái đầu của Thành, cuối cùng chúng tôi đành phải liệm xác. Sáng hôm sau, cả Trung đội bổ đi khắp nơi, lục soát mọi xó xỉnh, từng centimet một, rất kỹ, vẫn không tìm thấy cái đầu của Thành. Cuối cùng chúng tôi quyết định hạ huyệt. Một cái huyệt tập thể được đào ở lưng chừng ngọn đồi bạt ngàn hoa sim, bạt ngàn nắng và gió. Khi những cục đất đầu tiên thả xuống, Hiền bỗng lao xuống huyệt, ôm chặt lấy Thành. Phải vất vả lắm tôi mới cõng được Hiền lên, an ủi, động viên mãi Hiền mới chịu để yên cho chúng tôi lấp huyệt.
Những ngày tiếp theo trôi qua thật nặng nề, khủng khiếp. Chúng tôi vẫn ra mặt đường nhưng hầu như không ai nói với ai một lời. Bọn giặc giống như lũ chó, cắn trộm một miếng rồi dong thẳng, không quay lại, bởi thế không khí càng ắng lặng, nặng nề. Ái ngại nhất là thái độ của Hiền. Từ khi chôn thằng Thành và đồng đội, Hiền không hề khóc, không